Trang chủ

SUY THOÁI KINH TẾ NHẬT BẢN ĐẦU NHỮNG NĂM 1990 – KHÍA CẠNH TỪ BỎ ĐIỀU TIẾT TRỰC TIẾP VÀ CẢI TỔ CƠ CẤU CÔNG NGHIỆP

Đăng ngày: 15-03-2013, 10:23 | Danh mục: Bài viết tạp chí » Năm 2008 » Số 12

1. Từ bỏ điều tiết kinh tế trực tiếp

Ở cấp độ kinh tế vĩ mô, từ bỏ điều tiết kinh tế trực tiếp là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu, đối với tất cả các chính phủ kể từ khi kết thúc thời kỳ độc quyền lãnh đạo của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) năm 1993. Thủ tướng Chính phủ Hosokawa lúc đó đã công bố từ bỏ điều tiết như là một phương cách nhằm tiếp thêm  sức sống cho nền kinh tế và làm thỏa mãn các áp lực từ phía Hoa Kỳ  đối với một nền kinh tế mở. Người kế nhiệm ông  Tsutomu Hata cũng cam kết xúc tiến bãi bỏ điều tiết và phi tập trung hóa. Thủ tướng Murayama thậm chí đã cam kết công khai trước Chính phủ của mình rằng sẽ theo đuổi đến cùng chính sách này. Có thể nói, việc kêu gọi  bãi bỏ điều tiết đã thu được sự ủng hộ rộng lớn trong giới truyền thông, thông tin đại chúng,  các tầng lớp dân cư, các nhà kinh tế  có tầm ảnh hưởng([1]). Các nhà bình luận kinh tế  khẳng định  sự từ bỏ điều tiết  là điều cần thiết  nhằm tạo điều kiện cho các điều chỉnh trong cơ cấu công nghiệp Nhật Bản và làm  cho ngành dịch vụ  có sức cạnh tranh hơn. Tuy nhiên, đến khi tiến hành thì Chính phủ vẫn gặp phải sự phản kháng của nhóm quan liêu và nhóm lợi ích .

Tháng 3 năm 1995, Chính phủ của Murayama thực thi chương trình cải tổ kinh tế áp dụng trong 5 năm. Đây là chương trình được trông đợi từ rất lâu. Các nhà lãnh đạo của Nhật Bản cũng như Chính phủ Hoa Kỳ đã phản ứng lại với chương trình này. Theo họ, cho dù sáng kiến này bao gồm hơn 1000 phương pháp để bãi bỏ điều tiết nhưng hầu hết các phương pháp này  được hâm nóng qua các đề xuất  đã được thông báo từ trước. Đối với rất nhiều các hạng mục quan trọng thì Chính phủ lại không chỉ rõ được lịch trình triển khai  cụ thể. Mặc dù chương trình cải tổ chấp nhận  luật nhà nước là một chế tài pháp lý bắt buộc nhưng không  buộc Chính phủ phải cam kết xem xét lại tất cả hơn 10.000 quy phạm pháp luật hiện hành. Các quy phạm pháp luật về giá cả ở một số ngành công nghiệp chủ yếu như hàng không, viễn thông và bảo hiểm phi nhân thọ vẫn tiếp tục duy trì hiệu lực. Và cũng không có cam kết nào nhằm rà soát lại luật điều chỉnh áp dụng cho các cửa hàng bán lẻ lớn.  Vấn đề đặt ra đối với nỗ lực bãi bỏ điều tiết đó là tình trạng lỏng lẻo của nền chính trị và sự lãnh đạo yếu kém của Chính phủ Liên minh lâm thời. Như một hệ quả tất yếu, các giải pháp cụ thể được sử dụng trước đó đã tự sụp đổ. Do các quan chức chính phủ  thường là những người đứng đằng sau việc ban hành các điều luật nên việc từ bỏ điều tiết là rất khó khăn. Bởi như đã biết, các bộ luật này giúp duy trì quyền lực của họ. Và điều này trở thành một lực cản đối với việc thúc đẩy thực thi một chương trình cải tổ có hiệu quả.

Bất chấp tất cả, một dấu hiệu  tích cực đã xuất hiện trong thời kỳ cuối của quá trình từ bỏ điều tiết. Bắt đầu từ năm 1995, Chính phủ Nhật Bản quyết định sẽ xem xét và rà soát các văn bản quy phạm nếu có ý kiến đề xuất từ phía khu vực tư nhân. Hơn nữa, Chính phủ Nhật Bản cam kết sẽ công bố Sách trắng về bãi bỏ điều tiết hàng năm. Qua đó có thể đánh giá được  tác động của việc điều chỉnh các kế hoạch và  tác động của việc bãi bỏ  điều tiết trực tiếp của Chính phủ đối với nền kinh tế. Mặc dù các kết quả cụ thể chỉ có thể có được sau một thời gian dài nhưng sự minh bạch trong quá trình điều tiết của nhà nước có vẻ như đã được cải thiện. Và  sự minh bạch rõ ràng hơn có thể sẽ tạo điều kiện cho một chương trình bãi bỏ .điều tiết trên diện rộng. Điều này chỉ có thể thực hiện được  khi có một động lực chính trị thúc đẩy cải tổ.

Trong khi tiến độ của việc bãi bỏ diễn ra chậm chạp thì người tiêu dùng Nhật Bản đã phải đối mặt với một sự thay đổi lớn trong ngành dịch vụ bán lẻ. Sự suy thoái kéo dài đi kèm với sự khác biệt về giá cả nội địa và nước ngoài đã biến người Nhật trở thành vật hy sinh. Các cửa hàng chiết khấu  được xây dựng tại các khu vực xa xôi nhằm cạnh tranh với các cửa hàng có quy mô lớn nhưng không chiết khấu trước đây. Lợi dụng sự lên giá của đồng Yên, các cửa hàng chiết khấu đã phá vỡ mạng lưới phân phối truyền thống, qua đó họ muốn dành cho người tiêu dùng giá cả thấp hơn. Đi kèm với điều đó, người tiêu dùng sẽ không thể có dịch vụ cá nhân tập trung và dịch vụ sau bán hàng kèm theo. Chính cuộc cách mạng trong ngành bán lẻ và thái độ dễ dãi của người tiêu dùng tạo ra cơ hội cho các nhà sản xuất nước ngoài bán được nhiều hàng hóa hơn trên thị trường Nhật Bản. Nhưng phần lớn sản phẩm bán ra bởi các nhà bản lẻ này lại có thể là các sản phẩm được sản xuất bởi chính các công ty con của các tập đoàn sản xuất Nhật Bản ở các quốc gia có chi phí lao động thấp, như các công ty ở các nước Đông Nam Á và Trung Quốc.

2. Cải tổ cơ cấu công nghiệp và thị trường lao động

Nhằm điều chỉnh việc đầu tư quá theo hướng nâng cao hiệu quả, hầu hết các công ty Nhật Bản tập trung khai thác theo chiều sâu, tức là tìm mọi cách để đổi mới quản lý và nâng cao năng suất lao động. Trên thực tế, các doanh nghiệp Nhật Bản xúc tiến cải tổ cơ cấu theo các hướng sau đây:

Một là, thay đổi trong Keiretsu và các mối quan hệ hợp đồng phụ

Cần phải nhấn mạnh rằng, sự tăng giá của đồng Yên và quá trình quốc tế hóa  nền sản xuất đã và đang bắt đầu làm thay đổi các mối quan hệ giữa nhà thầu phụ và Keiretsu. Do chi phí cao và lợi nhuận thấp nên nhiều hãng lớn phải giảm số lượng các nhà cung cấp và thậm chí phải cắt bỏ các đơn đặt hàng với các nhà thầu phụ vốn được ưa chuộng. Trong khi đó, một số nhà sản xuất lớn  như nhà sản xuất ôtô ít do dự hơn trong việc tìm kiếm nguồn cung cấp bên ngoài mạng lưới truyền thống của mình nhằm giảm chi phí. Đồng thời để có thể tồn tại được, các nhà thầu phụ bắt đầu tìm kiếm các cơ hội kinh doanh trong  phạm vi rộng hơn với các hãng lớn khác, thậm chí  cả các công ty là đối thủ của chính Keiretsu. Áp lực cắt giảm chi phí đã làm tăng khối lượng giao dịch thương mại chéo của Keiretsu.

Các công ty  tận dụng việc tăng giá của đồng Yên và chi phí nhân công rẻ để mua hàng nhiều hơn từ các nhà cung cấp có cơ sở ở nước ngoài. Một loạt các công trình nghiên cứu do các nhà kinh tế thực hiện gần đây đã bắt đầu lí giải tại sao  các hoạt động này lại có được các lợi ích rõ rệt như vậy. Điều dễ nhận thấy là, các công ty tìm nguồn cung từ nước ngoài sẽ quay lại với các nhà thầu phụ. Với các nhà thầu phụ, họ lại phát triển các mối quan hệ lâu dài  thông qua hình thức liên doanh hoặc thông qua các cơ chế khác. Đồng thời, họ cũng nhận được sự khuyến khích đầu tư ra nước ngoài của mạng lưới nhà cung cấp truyền thống. Liên quan tới vấn đề này, nhà kinh tế học Nhật Bản nổi tiếng Dr. Yoshio Suzuki nhận xét rằng: “tối đa hóa lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường diễn ra lâu hơn trong khu vực Đông Á so với phương Tây. Tương tự, ở Đông Á việc cạnh tranh lành mạnh trong một thị trường không cần thiết phải cân bằng cơ hội trong các giao dịch điểm diễn ra thường xuyên. Thỉnh thoảng trong các giao dịch cũng xuất hiện cơ hội ngang bằng, nhất là trong mối quan hệ lâu dài  với những người tiêu dùng thuỷ chung”.

Hai là, điều chỉnh thị trường lao động

Bất chấp việc các phương tiện thông tin đại chúng đề cập quá nhiều tới hành động giảm sản xuất của các công ty và  tăng chậm của nạn thất nghiệp, dường như Nhật Bản không gặp phải tình trạng náo động thị trường lao động như những năm 1950. Quá trình điều tiết  diễn ra vào thời điểm khi mà thị trường lao động Nhật Bản đã không còn kiểm soát được nữa. Không giống như  các nước Tây Âu, Nhật Bản phải chấp nhận  cắt giảm sản xuất trong điều kiện ảnh hưởng đến chính trị và xã hội thấp nhất đến mức có thể. Tỉ lệ thất nghiệp đã tăng từ 2,1% năm 1990 lên đến 3,2% vào tháng 4 năm 1995. Các dự đoán bi quan hơn cho thấy, tỉ lệ thất nghiệp có thể vượt quá 4% trong thập niên đầu thế kỷ 21. Đối với tầng lớp lao động trẻ mới vào nghề (từ 15 đến 24 tuổi) thì tỉ lệ thất nghiệp còn cao hơn. Tuy nhiên, với tỉ lệ như vậy khi đem so sánh với các nền công nghiệp phát triển khác thì tỉ lệ thất nghiệp của Nhật Bản vẫn  còn thấp. Điều lưu ý là, xu hướng  trong tương lai của thị trường lao động Nhật Bản là việc khan hiếm lao động, chứ không phải là sự dư thừa lao động. Theo một số nhà kinh tế học, khi nguồn lao động Nhật Bản tăng theo tỉ lệ là 0,92% trong thời gian 1980-1990 thì tỉ lệ tăng trưởng sẽ vẫn giảm xuống 0,36% trong giai đoạn 1990-2000. Từ năm 2000 đến 2010, tăng trưởng nguồn nhân lực có thể chậm lại ở  tỉ lệ 0,25%/năm. Việc già hoá của dân số Nhật Bản trong vòng hơn hai thập kỉ tiếp theo không chỉ làm tăng đáng kể các chi phí xã hội của Chính phủ mà còn đẩy chi phí lương tăng lên đối với các tập đoàn tư nhân. Trong bối cảnh này các công ty lớn đã điều chỉnh bằng cách giảm mức độ quan trọng của tính thâm niên làm việc trong việc tính toán tiền lương. Giảm sự khuyến khích công nhân làm việc suốt đời tại một công ty.Điều này không chỉ làm thay đổi cơ cấu tiền lương mà còn làm tăng tính linh hoạt của thị trường lao động và khuyến khích người lao động tìm kiếm các cơ hội công việc tốt hơn trong các lĩnh vực mở rộng hơn.

Trong giai đoạn ngắn hạn và trung hạn, vấn đề dư thừa lao động vẫn nảy sinh, nhất là đối với nhóm người lao động trí óc. Tuy nhiên, điều này không làm tổn hại tới nhóm công nhân lao động phổ thông. Nhằm giải quyết vấn đề của nhóm người lao động trí óc, các công ty có xu hướng chuyển các nhà quản lý cấp trung sang các công ty con và các công ty phụ thuộc. Sự tăng trưởng kinh tế thấp có thể làm cho tình hình xã hội trở nên phức tạp hơn. Việc bãi bỏ điều tiết trực tiếp có thể tạo ra các cơ hội triển khai các loại hình kinh doanh mới trong các ngành  như dịch vụ, công nghệ thông tin và nhờ đó giúp giải quyết được lực lượng lao động trí óc này. Đồng thời, việc bãi bỏ điều tiết trực tiếp cũng có thể làm tăng việc cắt giảm sản xuất và sức ép dư thừa lao động sẽ gia tăng, đặc biệt là ở các cấp quản lý và thư ký văn phòng.

Người ta thấy rõ tác động của việc suy giảm kinh tế đối với việc tuyển dụng các sinh viên mới ra trường tham gia vào thị trường lao động lần đầu tiên. Vài năm trước, những sinh viên mới ra trường trẻ tuổi này có rất nhiều cơ hội việc làm. Nhưng hiện nay, khi các công ty cạnh tranh nhau nhằm tối thiểu hóa chi phí  nhân công “suốt đời” thì họ trở nên do dự khi  tuyển thêm người lao động. Việc giảm  tuyển dụng lao động và thậm chí đóng băng trong nhiều công ty cao cấp đã làm sâu sắc thêm tính cạnh tranh việc làm đối với lao động trẻ tuổi và  buộc nhiều ứng cử viên có trình độ cao phải theo đuổi những nghề nghiệp kém phù hợp. Những người lao động trẻ khi có được một công việc tốt lại gặp phải nguy cơ bị đóng băng về mức lương.

Và ba là, tăng số lượng công nhân nước ngoài

Điều có thể gây ra khó khăn lớn đối với các chính sách  dài hạn đó là vấn đề lao động nước ngoài. Không giống như các quốc gia Tây Âu, Nhật Bản không ủng hộ việc sử dụng lao động nước ngoài để giải quyết vấn đề thiếu nhân lực. Bộ Lao động Nhật Bản muốn tối đa hóa các cơ hội lao động cho người lao động Nhật Bản và tối thiểu hóa các ảnh hưởng xã hội tiêu cực của việc nhập cư người lao động nước ngoài. Các công ty lớn của Nhật Bản thường ưu tiên sử dụng  công nghệ kỹ thuật sản xuất tiết kiệm lao động hơn là phải thuê lao động nước ngoài. Nhưng do giá trị cao của đồng Yên đã khiến cho Nhật Bản trở nên hấp dẫn đặc biệt đối với những người lao động từ Đông Nam Á hay Mỹ Latinh. Áp lực của việc cắt giảm chi phí cũng khiến cho các chủ sở hữu công ty nhỏ có được sự khuyến khích mạnh mẽ trong việc thuê các nhân công nước ngoài với mức lương thấp hơn và ít chế độ bảo đảm thuê tuyển hơn. Các ngành công nghiệp bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi việc thiếu nhân lực là các doanh nghiệp dịch vụ, công ty sản xuất quy mô nhỏ và ngành xây dựng. Đến năm 2010, Nhật Bản đối mặt với tình trạng thiếu khoảng ba triệu lao động. Hơn thế, vì hầu hết người Nhật Bản đều do dự làm các công việc mang tính kiken (nguy hiểm), kitanai (bẩn) và kitsui (khó), do đó các cơ hội công việc dành cho người lao động không phải là người Nhật Bản đang gia tăng mạnh([2]).

Mặc dù Nhật Bản vẫn chưa áp dụng và phát triển một chính sách mở rộng liên quan tới người lao động nước ngoài nhưng một số lượng lớn người nước ngoài có thị thực nhập cảnh vào Nhật Bản với mục đích học tập hay du lịch đều đã tìm cách ở lại Nhật Bản để tìm kiếm việc làm. Chính phủ Nhật Bản đang phải thận trọng triển khai thí điểm các chính sách khác nhau đối với nhóm người này. Cụ thể là chương trình cho phép kéo dài thời gian cư trú của người nước ngoài có nguồn gốc Nhật Bản,  theo các điều khoản hợp lý bằng lý do thăm thân tại Nhật Bản. Trên thực tế hầu hết những người nước ngoài làm việc trong các cộng đồng được tạm trú hợp pháp. Các quan chức Chính phủ tính toán rằng, có khoảng 1 triệu người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, trong đó có khoảng hơn 200.000 người được coi là đang sinh sống và làm việc bất hợp pháp tại Nhật Bản và chỉ có khoảng xấp xỉ 150.000 người  đủ điều kiện của chương trình áp dụng cho người nước ngoài có nguồn gốc Nhật mà thôi([3]).

Vì bản thân những người công nhân Nhật Bản phải đối mặt với tình trạng bị cắt giảm biên chế trong khi một số vị trí công việc khác lại được dành cho người nước ngoài nên làn sóng phản đối người lao động nước ngoài của dân Nhật tương tự như đã xảy ra tại Đức trước đây. Nhưng vấn đề quan trọng hơn lại là những rắc rối về mặt xã  hội của Nhật Bản. Sự đồng nhất về dân tộc của Nhật Bản và sự cảnh giác với những kẻ ngoại lai đã khiến cho việc hòa đồng của công nhân nước ngoài vào xã hội Nhật Bản trở nên cực kỳ khó khăn. Tội phạm và các sự cố khác liên quan tới người nước ngoài đã làm trầm trọng thêm mối nghi ngờ này. Nói cách khác, sự tiếp nhận lạnh nhạt dành cho người lao động nước ngoài (đặc biệt là những người có nguồn gốc không phải Châu Âu) ở cấp độ cộng đồng người Nhật có thể làm tăng thêm nỗi thất vọng của những người lao động nước ngoài  về cuộc sống tại một quốc gia như Nhật Bản. Rõ ràng có một ranh giới rõ rệt phân định giữa người bản xứ và người nước ngoài. Căng thẳng giữa người Nhật và người nước ngoài có thể gây nên phản ứng bài ngoại của dân Nhật cũng như làm trỗi dậy sự phê phán của cộng đồng quốc tế đối với Nhật Bản.

 

PGS. TS. NGÔ XUÂN BÌNH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Funabishi Yoichi, ed., (1994), Japan's International Agenda, New York, N.Y University Press.

2. Brad Glosserman, US Foreign Policy Toward Northeast Asia, US  Embassy Document, Hanoi.

3. Japanese Ministry of Foreign Affairs, (2001), Diplomatic Bluebook, Tokyo, Japan.

4. Thomas J.Christensen, (1999), China, The US - Japan Alliance, and the Security Dilemma in East Asia, International Security.

5. Asahi News, December 4 , 2000.

6. Ngô Xuân Bình (chủ biên), (2000), Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh, Nxb Khoa học xã hội Việt Nam.

7. Ngô Xuân Bình (chủ biên), (2000), Quan hệ Nhật Bản - ASEAN: Chính sách và tài trợ ODA, Nxb Khoa học xã hội Việt Nam.

8. Noda Eijiro, (2002), Japan - US Security Treaty should be Scrapped, International Herald Tribune.

9. Các tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam, các số của nửa đầu năm 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



([1]) Kisei Kanwa Kenkyukai, 194; Rinji Gyosei Kaikaku, Suishin Shingikai Jimushitsu, 1989; Tajima, 1994

([2]) Dự báo của Oka, 2004

([3]) Thống kê của Chính phủ Nhật Bản, 2007

0thảo luận